CEO Nguyễn Thái Luyện và Chủ nghĩa hiện sinh (Phần 1)

Đăng 27/10/2017 bởi Admin

Đứng ở từng góc độ, có thể nhìn nhận vấn đề một cách rõ ràng. Đứng ở nhiều góc độ, có thể phân tích vấn đề một cách đa dạng. Vì vậy, khi xem xét một sự việc hay con người bất kỳ, phải đứng trên nhiều phương diện quan sát và phải “quan sát” một cách kỹ càng.

CEO Nguyễn Thái Luyện và Chủ nghĩa hiện sinh (Phần 1)

Chủ nghĩa hiện sinh (Ảnh minh họa). Nguồn: Internet.

Là người sáng lập và điều hành một doanh nghiệp đang có tốc độ phát triển “kỳ diệu” là công ty Cổ phần Địa ốc Alibaba với sự khởi đầu 5 nhân sự, sau hơn một năm, số lượng nhân sự lên đến gần 2000 người, cũng như đạt được nhiều thành tích đáng nể trong lĩnh vực kinh doanh, CEO Nguyễn Thái Luyện, chắc hẳn nhận được nhiều sự “quan tâm” từ phía cộng đồng dư luận.

Không thần thánh hóa hay huyền thoại hóa, bài viết sau đây tập trung phân tích lối sống hay gọi cách khác là phong cách sống mà CEO Nguyễn Thái Luyện lựa chọn dựa trên chủ nghĩa hiện sinh – một lý thuyết văn học và triết học, một trào lưu văn hóa về lối sống và phong cách sống có thực, xuất hiện trên thế giới vào thế kỉ XX. Qua cách ứng xử và lựa chọn trong cuộc sống cũng như công việc, CEO Nguyễn Thái Luyện cho thấy, có nhiều nét tương đồng giữa lối sống của anh với chủ nghĩa hiện sinh – một chủ nghĩa, có lẽ, nổi tiếng và được hưởng ứng nhiều nhất trên thế giới cho đến ngày nay.

Chủ nghĩa hiện sinh: Bối cảnh ra đời trên thế giới và sự lây lan đến Việt Nam

Nửa đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây bước sang thời kỳ hiện đại, các cuộc cách mạng khoa học, cách mạng công nghệ đã làm biến đổi tận gốc nền sản xuất xã hội – tiến bộ khoa học kỹ thuật này được phương Tây xem là thành quả của chủ nghĩa Duy lý với phương châm “Tôi tư duy nghĩa là tôi tồn tại”. Theo nền khoa học phát triển đó, con người bị máy móc hóa, tự động hóa, trở thành một yếu tố đơn giản của khoa học kỹ thuật. Mà con người sống trong cuộc đời, không chỉ có “tư duy” và “tồn tại” bởi, chủ thể con người — không chỉ là chủ thể tư duy, mà là cá thể sống, cá thể cảm xúc và cá thể hoạt động. Chủ nghĩa hiện sinh ra đời như một sự phản ứng đối với chủ nghĩa Duy lý thống trị xã hội phương Tây hiện đại thời bấy giờ.

Chủ nghĩa hiện sinh nổi lên như một phong trào trong văn học và triết học thế kỷ XX, chịu ảnh hưởng của một số nhà triết học thế kỷ XIX, nổi bật nhất là Soren Kierkegaard và Friedrich Nietzsche, tuy đã có những người đi tiên phong từ các thế kỉ trước. F. Nietzsche (1844 – 1900) là nhà triết học người Đức với các tác phẩm bất hủ như “Zarathustra đã nói như thế”, “Bên kia cái thiện”, “Này là người”… Sau đó, chủ nghĩa hiện sinh nổi lên ở thế kỷ XX như là một phong trào triết học với sự đóng góp của các tác giả danh tiếng như Martin Heidegger, Jean Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Franz Kafka, Albert Camus và Fyodor Dostoevsky.

Thuật ngữ "Chủ nghĩa hiện sinh" (Existentialism) được tạo ra bởi nhà triết học người Pháp Gabriel Marcel vào giữa năm 1940 và được sử dụng bởi J.P. Sartre trong bài thuyết trình của mình vào năm 1945 tại Paris. Bài thuyết trình sau đó được xuất bản thành cuốn sách ngắn mang tựa đề "Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân đạo" (nguyên văn “L'existentialisme est un humanisme – Existentialism is a Humanism”).

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, chủ nghĩa hiện sinh trở thành một phong trào triết học và văn hóa nổi tiếng, chủ yếu thông qua hai ngòi bút Pháp nổi tiếng là Jean Paul Sartre và Albert Camus. Theo đó, chủ nghĩa hiện sinh đã từng bước trở thành một trào lưu của triết học châu Âu lục địa trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XX.

Tại Việt Nam, sau năm 1963, chủ nghĩa hiện sinh du nhập vào miền Nam và có ảnh hưởng sâu rộng đến tầng lớp trí thức tiểu tư sản, ở cả hai hướng duy tâm và duy vật – những người “mắc kẹt giữa hai làn đạn".

Một mặt, chủ nghĩa hiện sinh dẫn đến phản ứng “nổi loạn” và “tận hưởng cuộc đời”. Trước năm 1975, chủ nghĩa này có mặt trên các sách báo: Sáng tạo, Văn, Văn nghệ, Văn học, Đại học… mang hơi hướng Hiện sinh với các tác phẩm: “Vòng tay học trò”, “Ngày qua bóng tối”, “Tuổi Sài Gòn” (Nguyễn Thị Hoàng); “Bếp lửa” (Thanh Tâm Tuyền) và sau năm 1975, các tác giả: Phạm Thị Hoài, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Huy Thiệp… cũng thể hiện khuynh hướng Hiện sinh rõ rệt trong sự nghiệp cải tạo cuộc sống bằng sáng tác.

Mặt khác, chủ nghĩa hiện sinh là sự gợi lên những suy tư, trăn trở về thân phận con người, ý thức trách nhiệm trước hoàn cảnh cá nhân, hoàn cảnh xã hội và chọn lựa thái độ ứng xử cũng như hành động nhập cuộc vì tha nhân. Có thể nói, chủ nghĩa hiện sinh đáp ứng nỗi ưu tư của con người và khao khát tự khẳng định khuôn mặt tinh thần của mình, đòi hỏi người trí thức không thể đứng thờ ơ “bên dòng chảy cuộc sống”.

Chủ nghĩa hiện sinh bàn về sự sinh tồn của con người, bao gồm bản chất cuộc sống và sự hiện tồn của con người trong đời sống. Nói một cách đơn giản, “hiện sinh” nghĩa là sống với hiện tại, sống ở hiện tại và sống là hiện tại. “Hiện sinh” trở thành một ý thức hệ lớn nhất trong thế kỉ XX.

Chủ nghĩa hiện sinh không chỉ hiện diện với hình thức là một lý thuyết mà còn thể hiện ra một lối sống, một phong cách sống. Dù văn chương nghệ thuật có ảnh hưởng không nhỏ đối với xã hội, nhưng không thể nói rằng lối sống Hiện sinh bắt nguồn từ văn học Hiện sinh, vì chủ nghĩa này đã trực tiếp hình thành nên phong cách sống đó. Do thế giới được bắt nguồn và tồn tại bằng một chuỗi mà Heidegger gọi là “tầm thường”, A.Camus gọi là “phi lý” và Sartre gọi là “buồn nôn”…

(Còn tiếp)

Bài viết liên quan